Ấn phẩm

Website lưu trữ tài liệu về các ngành hàng có nguy cơ gây mất rừng như cao su, cà phê, gỗ, sắn và điều; một số khía cạnh của thị trường carbon lâm nghiệp; hướng dẫn thực hiện EUDR tại Việt Nam, thông tin cơ chế, chính sách mới của Chính phủ, và nhiều ấn phẩm, báo cáo khác.

Thông tin thị trường gỗ và sản phẩm gỗ (08-16/09/2026)
Gỗ
2026

Thông tin thị trường gỗ và sản phẩm gỗ (08-16/09/2026)

Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại, Bộ Công Thương

Trong tuần 8–16/9/2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 438,9 triệu USD, tăng 61,9% so với tuần trước; riêng đồ nội thất bằng gỗ đạt 237,5 triệu USD, với Mỹ tiếp tục là thị trường chủ lực.

Tải về:VN
Thông tin thị trường cà phê (10-17/09/2026)
Cà phê
2026

Thông tin thị trường cà phê (10-17/09/2026)

Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại, Bộ Công Thương

Trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 1,33 triệu tấn cà phê, trị giá 6,03 tỷ USD, tăng 13,7% về lượng nhưng giảm 8,6% về giá trị so với cùng kỳ 2025 do giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh. Xuất khẩu sang các thị trường chủ lực đều tăng về lượng, trong đó EU chiếm 40,7% tổng kim ngạch. Giá cà phê thế giới và trong nước chịu áp lực giảm do nguồn cung gia tăng.

Tải về:VN
Thông tin thị trường cao su (10-17/09/2026)
Cao su
2026

Thông tin thị trường cao su (10-17/09/2026)

Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại, Bộ Công Thương

Trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 944.891 tấn cao su, trị giá 1,88 tỷ USD, giảm lần lượt 15,4% và 5,1% so với cùng kỳ 2025, trong khi giá xuất khẩu bình quân tăng 12,1% lên 1.990 USD/tấn. Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất nhưng xuất khẩu giảm mạnh, trong khi Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc và Mexico ghi nhận mức tăng đáng kể, cho thấy sự dịch chuyển nhu cầu giữa các thị trường xuất khẩu chủ lực.

Tải về:VN
Việt Nam xuất nhập khẩu cà phê giai đoạn 2015-2025: Một số điểm đáng chú ý
Cà phê
2026

Việt Nam xuất nhập khẩu cà phê giai đoạn 2015-2025: Một số điểm đáng chú ý

Lương Kim Anh, Lê Thu

Trong giai đoạn 2015–2025, Việt Nam tiếp tục giữ vững vị thế nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới, với tổng lượng xuất khẩu 15,8 triệu tấn cà phê các loại, đạt kim ngạch 41,6 tỷ USD, đưa cà phê trở thành một trong ba ngành hàng nông lâm sản xuất khẩu chủ lực.

Tải về:VNEN
Từ bộ bàn ghế học sinh "lỗi thời" tới chính sách mua sắm công đồ gỗ: Cơ hội đột phá để định hình lại thị trường gỗ nội địa và nâng cao chuỗi giá trị ngành gỗ
Gỗ
2026

Từ bộ bàn ghế học sinh "lỗi thời" tới chính sách mua sắm công đồ gỗ: Cơ hội đột phá để định hình lại thị trường gỗ nội địa và nâng cao chuỗi giá trị ngành gỗ

Tô Xuân Phúc

Việt Nam là cường quốc xuất khẩu đồ gỗ, nhưng thị trường nội địa còn hạn chế về chất lượng, tính pháp lý, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn sản phẩm. Từ thực trạng bàn ghế học sinh tại các trường công đã cũ, báo cáo đề xuất xây dựng chính sách mua sắm công đồ gỗ, ưu tiên chất lượng, an toàn, gỗ rừng trồng trong nước và tái sử dụng vật liệu. Chính sách này có thể thúc đẩy trồng rừng gỗ lớn, phát triển thị trường nội địa, giảm phụ thuộc vào gỗ nhập khẩu rủi ro và nâng cao vị thế ngành gỗ Việt Nam.

Tải về:VNEN
Áp dụng công nghệ để xây dựng bản đồ vùng trồng nhằm đáp ứng EUDR: Vai trò, điểm mạnh và một số hạn chế
Dữ liệu vùng trồng
2026

Áp dụng công nghệ để xây dựng bản đồ vùng trồng nhằm đáp ứng EUDR: Vai trò, điểm mạnh và một số hạn chế

Tô Xuân Phúc, Phạm Ngọc Hải

Công nghệ viễn thám giúp xác định nhanh, chính xác vị trí, diện tích và thời gian hình thành vùng trồng, đồng thời nhận diện các khu vực rủi ro khi chồng xếp với bản đồ rừng. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào chất lượng ảnh, nguồn lực kỹ thuật và hoạt động kiểm chứng thực địa. Để đáp ứng đầy đủ EUDR, vẫn cần thu thập thông tin trực tiếp từ nông hộ và xác định ranh giới từng lô đất sản xuất.

Tải về:VNEN
Dữ liệu vùng trồng của các ngành hàng: Từ tuân thủ EUDR đến hạ tầng chiến lược của ngành nông nghiệp Việt Nam
Dữ liệu vùng trồng
2026

Dữ liệu vùng trồng của các ngành hàng: Từ tuân thủ EUDR đến hạ tầng chiến lược của ngành nông nghiệp Việt Nam

Tô Xuân Phúc

Việt Nam không thiếu dữ liệu vùng trồng, nhưng dữ liệu hiện còn phân mảnh, thiếu đồng nhất và chưa liên thông giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các cấp quản lý, gây lãng phí nguồn lực và gia tăng rủi ro trong chuỗi cung ứng. Báo cáo cho rằng dữ liệu vùng trồng không nên chỉ phục vụ tuân thủ các yêu cầu như EUDR, mà cần trở thành hạ tầng dữ liệu dùng chung của ngành nông nghiệp. Một nền tảng đồng nhất, có thể cập nhật, chia sẻ, kết nối, truy xuất và bảo vệ dữ liệu sẽ là hạ tầng chiến lược, mang lại lợi ích cho nông hộ, doanh nghiệp và Nhà nước.

Tải về:VNEN
Đất đang dần chết sau những mùa vàng Tây Nguyên
Lĩnh vực khác
2026

Đất đang dần chết sau những mùa vàng Tây Nguyên

Phạm Tuấn Anh

Bài viết phân tích một nghịch lý trong nông nghiệp Tây Nguyên: năng suất cây trồng có thể tiếp tục tăng, trong khi nền tảng sinh thái — chính là đất — ngày càng suy thoái dưới áp lực của thâm canh, nhu cầu thị trường và sự phân mảnh của các hệ thống tri thức. Phục hồi đất không chỉ là một thách thức về kỹ thuật, mà đòi hỏi một sự chuyển đổi mang tính hệ thống dựa trên bốn trụ cột: đo lường sức khỏe đất, định hình lại các động lực kinh tế, chuyển hóa tri thức thành thực hành cộng đồng và thiết kế lại các hệ thống nông nghiệp theo hướng dài hạn.

Tải về:VNEN
Hướng dẫn phương pháp triển khai thu thập dữ liệu vùng trồng dựa trên năng lực sẵn có của địa phương
Dữ liệu vùng trồng
2026

Hướng dẫn phương pháp triển khai thu thập dữ liệu vùng trồng dựa trên năng lực sẵn có của địa phương

Forest Trends

Tài liệu chia sẻ phương pháp thu thập và xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng dựa trên nguồn lực sẵn có tại địa phương, thông qua mô hình ba giai đoạn từ đào tạo giảng viên nguồn, tập huấn “cầm tay chỉ việc” tại xã/thôn bản đến nhân rộng trên toàn địa bàn, dựa trên kinh nghiệm thí điểm tại bốn xã của Điện Biên và Sơn La. Kết quả cho thấy cách tiếp cận dựa vào cộng đồng có thể giúp địa phương nhanh chóng xây dựng dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc và EUDR với chi phí hợp lý, đồng thời nâng cao năng lực tự chủ của chính quyền, người dân và cộng đồng trong quản lý, cập nhật và làm chủ dữ liệu vùng trồng.

Tải về:VNEN
Từ dữ liệu vùng trồng đến quản trị ngành hàng: Góc nhìn từ thực tiễn địa phương
Dữ liệu vùng trồng
2026

Từ dữ liệu vùng trồng đến quản trị ngành hàng: Góc nhìn từ thực tiễn địa phương

Phạm Tuấn Anh

Tài liệu phân biệt mã số vùng trồng với cơ sở dữ liệu vùng trồng, nhấn mạnh rằng dữ liệu không nên chỉ phục vụ truy xuất nguồn gốc hay EUDR mà cần được kết nối, cập nhật thường xuyên và trở thành nền tảng hỗ trợ ra quyết định, từng bước chuyển từ quản lý sản xuất sang quản trị ngành hàng dựa trên dữ liệu. Từ kinh nghiệm thực tiễn tại Đắk Nông, tác giả đề xuất cách tiếp cận từ dưới lên kết hợp vai trò kiến tạo của Nhà nước với sự tham gia của nông hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp, qua đó hình thành một hệ thống dữ liệu sống, phản ánh thực tế sản xuất và nâng cao năng lực quản trị ngành nông nghiệp.

Tải về:VNEN
Đi tìm quyền cho đất - Đạo đức sinh thái nhân văn trong nông nghiệp hiện đại
Lĩnh vực khác
2026

Đi tìm quyền cho đất - Đạo đức sinh thái nhân văn trong nông nghiệp hiện đại

Phạm Tuấn Anh

Khái niệm “quyền của đất” được đề xuất như một cách tiếp cận mới nhằm nhìn nhận mối quan hệ tổng hòa giữa con người, hệ đất sống và phát triển bền vững dưới lăng kính sinh thái nhân văn. Thay vì đưa ra một khuôn mẫu định sẵn, chuyên luận hướng tới mở rộng không gian cho các thảo luận và phản biện khách quan, có trách nhiệm, từ cả góc độ học thuật và chính sách.

Tải về:VNEN
Việt Nam xuất khẩu dăm gỗ 6 tháng đầu năm 2026
Gỗ
2026

Việt Nam xuất khẩu dăm gỗ 6 tháng đầu năm 2026

Forest Trends

Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu dăm gỗ của Việt Nam đạt gần 7,8 triệu tấn, trị giá khoảng 1,3 tỷ USD, giảm 9,4% về lượng nhưng tăng 9,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Infographic dưới đây cung cấp bức tranh tổng quan về xuất khẩu dăm gỗ của Việt Nam, giá xuất khẩu và diễn biến tại các thị trường chính trong nửa đầu năm 2026.

Tải về:VNEN
Việt Nam xuất khẩu viên nén 6 tháng đầu năm 2026
Gỗ
2026

Việt Nam xuất khẩu viên nén 6 tháng đầu năm 2026

Forest Trends

Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu viên nén của Việt Nam đạt gần 3,8 triệu tấn, trị giá khoảng 557,1 triệu USD, giảm 3,3% về lượng và 1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Infographic này cung cấp bức tranh tổng quan về xuất khẩu viên nén của Việt Nam, giá xuất khẩu và diễn biến tại các thị trường chính trong nửa đầu năm 2026.

Tải về:VNEN
Từ xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng phục vụ truy xuất nguồn gốc và quản lý tới cơ sở dữ liệu đa tầng trong tương lai
Dữ liệu vùng trồng
2026

Từ xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng phục vụ truy xuất nguồn gốc và quản lý tới cơ sở dữ liệu đa tầng trong tương lai

Tô Xuân Phúc, Dương Văn Thành

Báo cáo cung cấp thông tin cơ bản về thực trạng dữ liệu vùng trồng đối với hàng hóa nông lâm sản, chỉ ra những hạn chế về dữ liệu đang cản trở việc truy xuất nguồn gốc và minh chứng tuân thủ các yêu cầu của pháp luật và thị trường. Báo cáo thảo luận phương pháp thu thập, đồng bộ và sử dụng dữ liệu, đồng thời kiến nghị kết hợp cách tiếp cận “từ trên xuống” và “từ dưới lên”: Trung ương ban hành chuẩn dữ liệu, kỹ thuật, cơ chế bảo mật và quy trình tích hợp; địa phương thu thập, xác nhận và cập nhật dữ liệu; doanh nghiệp chia sẻ dữ liệu vùng nguyên liệu theo cơ chế bảo vệ quyền lợi chính đáng. Nhà nước cần bảo đảm hạ tầng công nghệ, nguồn lực cập nhật, cơ chế kiểm chứng và phân quyền truy cập. Trước xu hướng các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu dữ liệu đối với sản phẩm và toàn bộ chuỗi cung ứng, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần ưu tiên xây dựng cơ sở dữ liệu đa tầng ngay từ bây giờ.

Tải về:VNEN
Tính cấp thiết để xây dựng bộ DLVT cho hàng hoá nông lâm sản phục vụ công tác quản lý và truy xuất nguồn gốc: Cách tiếp cận từ dưới lên
EUDRDữ liệu vùng trồng
2026

Tính cấp thiết để xây dựng bộ DLVT cho hàng hoá nông lâm sản phục vụ công tác quản lý và truy xuất nguồn gốc: Cách tiếp cận từ dưới lên

Tô Xuân Phúc, Hà Công Tuấn

Báo cáo nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về việc xây dựng một cơ sở dữ liệu vùng trồng chính xác, cập nhật và toàn diện tại Việt Nam nhằm phục vụ truy xuất nguồn gốc nông sản, đặc biệt trong bối cảnh các quy định quốc tế như EUDR và các quy định pháp luật trong nước (như Nghị định 37/2026/NĐ-CP và Thông tư 31/2026/TT-BCT). Báo cáo đề xuất áp dụng cách tiếp cận từ dưới lên, tận dụng nguồn nhân lực tại địa phương, như cán bộ cấp thôn, bản, để thu thập dữ liệu thực địa ở cấp lô đất đối với các vùng sản xuất cà phê, cao su và gỗ.

Tải về:VNEN
Đất rừng do UBND xã quản lý: Thực trạng và ý nghĩa đối với EUDR và thị trường các-bon rừng
CarbonEUDR
2026

Đất rừng do UBND xã quản lý: Thực trạng và ý nghĩa đối với EUDR và thị trường các-bon rừng

Nguyễn Văn Toại, Nguyễn Vinh Quang, Tô Xuân Phúc

Báo cáo đánh giá thực trạng sử dụng và quản lý diện tích rừng, đất rừng do UBND xã quản lý, đồng thời phân tích ý nghĩa của thực trạng này đối với quá trình Việt Nam thích ứng với EUDR và thị trường các-bon rừng. Báo cáo tổng hợp dữ liệu thống kê, các nghiên cứu liên quan, tham vấn chuyên gia và cán bộ lâm nghiệp, kết hợp với kết quả khảo sát thực địa tại Sơn La, Phú Thọ và Gia Lai trong tháng 3–4/2026.

Tải về:VNEN
Cẩm nang thực hành phục hồi đất tại nông hộ và cộng đồng
Lĩnh vực khác
2026

Cẩm nang thực hành phục hồi đất tại nông hộ và cộng đồng

Phạm Tuấn Anh

Được viết bởi TS. Phạm Tuấn Anh, nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Nông, cuốn sổ tay dựa trên kinh nghiệm thực tiễn sản xuất để đề xuất những biện pháp đơn giản mà nông dân có thể áp dụng nhằm từng bước phục hồi sức khỏe đất.

Tải về:VNEN
Di chứng sau những mùa vàng: Ai chịu trách nhiệm về rác thải nông nghiệp
Lĩnh vực khác
2026

Di chứng sau những mùa vàng: Ai chịu trách nhiệm về rác thải nông nghiệp

Phạm Tuấn Anh

Lấy chất thải nông nghiệp tại Tây Nguyên làm nghiên cứu điển hình, bản tóm lược chính sách này phân tích những bất cập mang tính hệ thống trong quản lý chất thải nông nghiệp tại Việt Nam. Tác giả cho rằng tình trạng chất thải tồn đọng không đơn thuần xuất phát từ nhận thức của từng nông hộ, mà do những đứt gãy trong hệ thống logistics, khi khâu thu gom được tổ chức nhưng khâu xử lý cuối cùng lại chưa được chú trọng; đồng thời chỉ ra rằng chi phí môi trường hiện đang được chuyển sang cho nông dân và môi trường địa phương, từ đó đề xuất tái cấu trúc chuỗi giá trị.

Tải về:VNEN
Bản đồ diện tích rừng có chứng chỉ PEFC tại Việt Nam (đến 11/05/2026)
Gỗ
2026

Bản đồ diện tích rừng có chứng chỉ PEFC tại Việt Nam (đến 11/05/2026)

Forest Trends

Bản đồ thể hiện diện tích rừng được chứng nhận PEFC/VFCS tại Việt Nam theo vùng và một số tỉnh trọng điểm, tính đến ngày 11/5/2026. Tổng diện tích rừng được chứng nhận PEFC/VFCS trên cả nước đạt 263.200 ha. Xét theo vùng, Đông Nam Bộ dẫn đầu với 83.000 ha, tiếp theo là Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên với 74.000 ha. Các địa phương có diện tích được chứng nhận lớn nhất gồm Đồng Nai (40.800 ha), Gia Lai (39.600 ha) và Thành phố Hồ Chí Minh (35.100 ha).

Tải về:VNEN
Bản đồ diện tích rừng có chứng chỉ FSC tại Việt Nam (đến 11/05/2026)
Gỗ
2026

Bản đồ diện tích rừng có chứng chỉ FSC tại Việt Nam (đến 11/05/2026)

Forest Trends

Bản đồ thể hiện diện tích rừng được chứng nhận FSC tại Việt Nam theo vùng và một số tỉnh trọng điểm, tính đến ngày 11/5/2026. Tổng diện tích rừng được chứng nhận FSC trên cả nước đạt 616.900 ha. Xét theo vùng, Bắc Trung Bộ dẫn đầu với 193.300 ha, tiếp theo là Trung du và miền núi phía Bắc với 181.400 ha. Các địa phương có diện tích rừng được chứng nhận lớn nhất gồm Tuyên Quang (59.000 ha), Phú Thọ (58.000 ha) và Thanh Hóa (53.200 ha).

Tải về:VNEN
Màu xanh đại ngàn đổi sắc: Chuyển dịch cảnh quan, sinh kế và quản trị ở Tây Nguyên trong hơn ba thập kỷ qua
Lĩnh vực khác
2026

Màu xanh đại ngàn đổi sắc: Chuyển dịch cảnh quan, sinh kế và quản trị ở Tây Nguyên trong hơn ba thập kỷ qua

Phạm Tuấn Anh

Hơn ba thập kỷ qua, kể từ sau những thay đổi lớn của đất nước, Tây Nguyên đã trải qua một hành trình chuyển mình sâu sắc, khi màu xanh của đại ngàn – vốn là bản sắc và nguồn sống của vùng đất – không ngừng “đổi sắc”, những thảm rừng dần được thay thế bởi các vùng cây công nghiệp rộng lớn, đồng thời làm thay đổi sinh kế, nếp nghĩ của người dân và phương thức quản lý tại các buôn làng. Từ những biến động đó, một cách tiếp cận được đặt ra, trong đó mối quan hệ giữa con người và đại ngàn được nhìn nhận như một chỉnh thể sống không thể tách rời; rừng, đất, nước và sinh kế gắn kết mật thiết, cùng tồn tại và tương tác trong một không gian cảnh quan đang chịu nhiều biến động.

Tải về:VNEN
Báo cáo đánh giá một số công cụ thu thập DLVT phục vụ thích ứng EUDR
EUDRDữ liệu vùng trồng
2026

Báo cáo đánh giá một số công cụ thu thập DLVT phục vụ thích ứng EUDR

Phạm Ngọc Hải, Nguyễn Trọng Cương, Triệu Bảo Ngọc

Báo cáo đánh giá tám công cụ công nghệ phục vụ thu thập dữ liệu vùng trồng nhằm hỗ trợ truy xuất nguồn gốc và đáp ứng EUDR tại Việt Nam, dựa trên các tiêu chí về chức năng, khả năng sử dụng, bảo mật dữ liệu, khả năng tích hợp và chi phí triển khai. Mặc dù cả tám công cụ đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng, Open Foris Ground, QField và KoboCollect được đánh giá có tiềm năng lớn trong việc thu thập dữ liệu nhanh với chi phí thấp tại những địa phương có nguồn lực hạn chế; tuy nhiên, chưa có công cụ nào đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của pháp luật Việt Nam về an toàn dữ liệu khi sử dụng cấu hình mặc định hiện tại.

Tải về:VNEN
Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và một số khía cạnh cần quan tâm
Lĩnh vực khác
2026

Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và một số khía cạnh cần quan tâm

Nguyễn Vinh Quang, Tô Xuân Phúc, Lương Kim Anh

Báo cáo nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi chuỗi cung ứng sắn của Việt Nam theo hướng truy xuất nguồn gốc đầy đủ, tập trung vào việc minh bạch và chuẩn hóa thông tin về sử dụng đất và giao dịch sản phẩm giữa tất cả các tác nhân trong chuỗi. Báo cáo cũng đề xuất xây dựng các cơ chế kiểm soát rủi ro hiệu quả nhằm ngăn ngừa mất rừng và thúc đẩy sử dụng đất bền vững; để đạt được khả năng truy xuất nguồn gốc, cần tăng cường khả năng tiếp cận thông tin và nâng cao năng lực trên diện rộng, đặc biệt đối với các hộ sản xuất nhỏ và thương lái.

Tải về:VNEN
Việt Nam xuất khẩu viên nén Quý 1/2026
Gỗ
2026

Việt Nam xuất khẩu viên nén Quý 1/2026

Forest Trends

Infographic cung cấp tổng quan về xuất khẩu viên nén gỗ của Việt Nam trong quý I/2026. Nhờ nhu cầu nhiên liệu sinh khối tại Nhật Bản, xuất khẩu viên nén gỗ của Việt Nam tăng trưởng mạnh, trong đó Nhật Bản chiếm hơn 3/4 tổng lượng xuất khẩu. Ngược lại, xuất khẩu sang Hàn Quốc tiếp tục giảm, xuống chỉ còn hơn 300.000 tấn trong quý I/2026. Giá xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 151,8 USD/tấn, tăng 1,8% so với mức bình quân năm 2025.

Tải về:VNEN
Infographic: Sản xuất và thương mại sắn trong khu vực tiểu vùng sông Mê kông và Trung Quốc 2025
Lĩnh vực khác
2026

Infographic: Sản xuất và thương mại sắn trong khu vực tiểu vùng sông Mê kông và Trung Quốc 2025

Nguyễn Vinh Quang, Tô Xuân Phúc, Lương Kim Anh

Infographic cung cấp tổng quan về chuỗi cung ứng sắn của Việt Nam năm 2025. Việt Nam xuất khẩu các sản phẩm sắn tới hơn 90 thị trường trên thế giới, trong đó Trung Quốc chiếm phần lớn giá trị xuất khẩu. Infographic cũng thể hiện xu hướng diện tích thu hoạch và sản lượng sắn tại các quốc gia trọng điểm ở khu vực Mekong, cùng với tỷ trọng nhập khẩu của Việt Nam, Thái Lan và Trung Quốc.

Tải về:VNEN