Webinar: Cơ hội thị trường tín chỉ các-bon đối với ngành cao su Việt Nam

Cao su, Carbon
11.08.2026
Hình ảnh

Trong bối cảnh các yêu cầu về giảm phát thải và phát triển chuỗi cung ứng bền vững ngày càng gia tăng, tín chỉ các-bon đang dần trở thành một công cụ tiềm năng giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn tài chính mới, đồng thời đáp ứng yêu cầu từ thị trường quốc tế. Ngành cao su với đặc thù là cây trồng dài ngày và có khả năng hấp thụ các-bon được đánh giá có tiềm năng tham gia các cơ chế tín chỉ các-bon. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp hiện vẫn thiếu thông tin thực tiễn về thị trường, chính sách và cách thức triển khai.

Ngày 11/8/2026, Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) và Forest Trends đã phối hợp tổ chức webinar “Cơ hội thị trường tín chỉ các-bon đối với ngành cao su Việt Nam”. Hội thảo có sự tham dự của gần 100 đại biểu đại diện cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chuyên môn, doanh nghiệp cao su, chuyên gia và các đơn vị quan tâm đến thị trường các-bon. Hội thảo cung cấp bức tranh tổng thể về các loại hình thị trường các-bon, cập nhật cơ chế, chính sách của Việt Nam và các yêu cầu đối với tín chỉ các-bon rừng, đồng thời thảo luận về cơ hội cũng như những vướng mắc từ thực tiễn doanh nghiệp cao su.

Hiện nay, thị trường các-bon có thể được chia thành thị trường tuân thủ, thị trường tự nguyện và các cơ chế hợp tác quốc tế khác. Trong đó, thị trường tuân thủ phát sinh từ nghĩa vụ pháp lý hoặc yêu cầu bắt buộc; thị trường tự nguyện dựa trên nhu cầu chủ động mua và sử dụng tín chỉ của doanh nghiệp, tổ chức; bên cạnh đó còn có các cơ chế khác theo Điều 6.2, Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris và CORSIA đối với hàng không quốc tế.

Tại Việt Nam, khung chính sách cho thị trường các-bon nói chung và các-bon rừng nói riêng đang được hình thành với nhiều quy định liên quan như Nghị định 180 về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, Nghị định 29 về sàn giao dịch các-bon trong nước, Nghị định 112 về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải KNK và tín chỉ các-bon, Nghị định GPT KNK (06-119).

Từ góc nhìn doanh nghiệp, khi tiếp cận thị trường các-bon, ông Hoàng Bảo Luân, Phó giám đốc Đội KHCN, Tổng Công ty Cao su Đồng Nai (DONARUCO) cho rằng ngành cao su có một số lợi thế đáng kể. Cao su có chu kỳ kinh doanh dài, khoảng 25–30 năm, sinh khối lớn và có gỗ thương phẩm cuối chu kỳ. Đồng thời, các doanh nghiệp cao su đã tích lũy hệ thống dữ liệu tương đối tốt về lô trồng, tuổi cây, giống, phân bón, nhiên liệu và sản lượng trong nhiều năm. Bên cạnh đó, áp lực từ EUDR, yêu cầu về dấu chân các-bon của khách hàng và các cam kết Net Zero trong chuỗi cung ứng cũng đang tạo thêm động lực cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, khi đối chiếu các điều kiện của dự án tín chỉ các-bon với thực tế sản xuất, nhiều nút thắt bắt đầu xuất hiện.

Một trong những vấn đề căn bản là tư cách pháp lý và phân loại đất. TCVN 14682:2026 xác định đối tượng của biện pháp IFM-P gồm rừng trồng sản xuất hiện có và đất rừng sản xuất sau khai thác. Trong khi đó, diện tích cao su của DONARUCO nằm trên đất Nhà nước cho thuê để trồng cây lâu năm, không phải đất lâm nghiệp. Điều này đặt ra câu hỏi liệu vườn cao su trên đất trồng cây lâu năm có được coi là đối tượng phù hợp với IFM-P và doanh nghiệp thuê đất có đủ tư cách đăng ký dự án các-bon rừng hay không.

Một khó khăn khác là sự không trùng khớp giữa diện tích có chứng chỉ quản lý rừng bền vững và diện tích có khả năng duy trì ổn định dài hạn. DONARUCO hiện quản lý khoảng 31.000 ha cao su tại Đồng Nai, trong đó trên 9.000 ha đã có chứng chỉ VFCS/PEFC và khoảng 2.000 ha tại Cẩm Mỹ được xác định ổn định dài hạn. Tuy nhiên, phần lớn diện tích có chứng chỉ lại nằm trong khu vực quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đến năm 2030, trong khi diện tích ổn định dài hạn chưa có chứng chỉ quản lý rừng tương ứng.

Bên cạnh đó là thời gian cam kết và nghịch lý tính bổ sung. Các doanh nghiệp cao su lớn vốn đã áp dụng quy trình kỹ thuật tương đối chuẩn hóa trong nhiều năm, từ sử dụng giống, phân bón theo định mức đến quản lý thực bì và chống xói mòn. Khi nhiều biện pháp cải thiện đã trở thành hoạt động sản xuất thông thường, doanh nghiệp phải xác định được đâu là phần can thiệp mới, tăng thêm so với kịch bản cơ sở để có thể tạo tín chỉ.

Một vấn đề khác được doanh nghiệp đặt ra là mối quan hệ giữa lượng tín chỉ tạo ra với nghĩa vụ đóng góp cho NDC. Theo nội dung trình bày, doanh nghiệp không đơn giản “tạo được bao nhiêu thì bán bấy nhiêu”; lượng tín chỉ được cung ứng còn phụ thuộc vào việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp NDC và phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận trước khi trao đổi, chuyển nhượng.

Chi phí dự án và giá tín chỉ cũng là yếu tố quyết định tính khả thi. Các dự án phải trải qua nhiều bước từ lựa chọn tiêu chuẩn, xây dựng văn kiện dự án, đăng ký và thẩm định, tổ chức đo đạc và báo cáo, xác minh độc lập đến cấp tín chỉ và ghi nhận trên hệ thống đăng ký. Điều này đặc biệt đặt ra thách thức đối với các dự án quy mô nhỏ, bởi chi phí tư vấn, đo đạc, thẩm định và xác minh có thể làm tăng đáng kể chi phí trên mỗi tín chỉ.

Từ thực tiễn này, DONARUCO đề xuất xem xét mô hình dự án ở quy mô lớn hoặc gộp nhiều đơn vị cùng tham gia, qua đó chia sẻ chi phí tư vấn, đo đạc và thẩm định, đồng thời tạo sản lượng tín chỉ đủ lớn để cải thiện hiệu quả kinh tế của dự án. Doanh nghiệp cũng kiến nghị cần làm rõ tư cách pháp lý của doanh nghiệp thuê đất trồng cây lâu năm, khả năng áp dụng IFM-P đối với cao su, nguyên tắc phân bổ đóng góp NDC, đồng thời xây dựng hướng dẫn kỹ thuật và hệ số sinh khối, hệ số phát thải phù hợp riêng cho cây cao su.

Từ các trao đổi tại Hội thảo, có thể thấy ngành cao su có tiềm năng tham gia thị trường các-bon, nhưng việc phát triển tín chỉ cần được tiếp cận thận trọng trên cả ba phương diện: pháp lý, kỹ thuật và hiệu quả kinh tế.

Trước mắt, doanh nghiệp cần chủ động hoàn thiện dữ liệu về diện tích, hiện trạng rừng/cây trồng, sinh khối và phát thải; đồng thời đánh giá tính bổ sung, khả năng duy trì dự án và chi phí đo đạc, thẩm định, xác minh trước khi quyết định đầu tư. Ở cấp ngành, việc xây dựng hướng dẫn kỹ thuật và cơ sở dữ liệu, hệ số sinh khối, hệ số phát thải phù hợp với đặc thù cây cao su sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi phí và tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia thị trường.

Trong bối cảnh các yêu cầu về giảm phát thải và chuỗi cung ứng bền vững ngày càng gia tăng, tín chỉ các-bon có thể trở thành một nguồn tài chính mới cho ngành cao su. Tuy nhiên, bên cạnh khả năng bán tín chỉ, doanh nghiệp cũng cần cân nhắc giá trị của lượng giảm phát thải và hấp thụ các-bon đối với chính chuỗi cung ứng của mình, đặc biệt khi khách hàng quốc tế ngày càng quan tâm đến dấu chân các-bon của sản phẩm. Đây là bài toán cần được đánh giá đồng thời về kỹ thuật, pháp lý và hiệu quả kinh tế trước khi quyết định đầu tư vào một dự án tín chỉ các-bon.

Ẩn danh

lúc 05:45 11 tháng 8, 2026

Vì một số lí do, e không thể tham gia buổi trực tuyến. Kính mong BTC cho e xin records buổi zoom. Gmail: phanhue1272005@gmail.com

Bình luận